Hóa Sinh Gan Mật - Diễn Đàn Sinh Viên Trường Đại Học Y Hải Phòng
CHVF

Trở lại   Diễn Đàn Sinh Viên Trường Đại Học Y Hải Phòng >
CHUYÊN NGÀNH Y KHOA
> Kỹ thuật y học

Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
Cũ 20-10-2011, 06:59 PM   #1
truong_xn1
Thành Viên Mới
 
Avatar của truong_xn1
 
Tham gia ngày: Oct 2011
Bài gửi: 5
Mặc định Hóa Sinh Gan Mật

Đây là bài giảng của thầy nha!!!
mình đua lên đây các bạn cùng tham khảo!!

Hoá sinh gan mật
Trần Hoài Nam
tổng quan
Gan là cơ quan lớn nhất của cơ thể, năng trung b́nh 2 kg, chiếm 3% thân trọng
Gan cú nhiều chức năng và sức làm việc rất lớn, như:
- Chức năng chuyển hoá các chất: carbohydrat, lipid, acid amin và protein, bilirubin, hormon.
- Chức năng bài tiết: acid mật, cholesterol, bilirubin.
- Chức năng đối với hệ máu: sản xuất các yếu tố đông máu, sản xuất tế bào hồng cầu trong thai nhi
- Chức năng khử độc đối với các nhất như bilirubin, ammoniac, alcol và thuốc...
- Chức năng tàng trữ các chất, bao gồm glycogen, lipid, acid amin và protein, sắt, đồng, các vitamin. . . .
- Chức năng miễn dịch: thực bào đối với vi khuẩn và các chất ngoại sinh khác, bài tiết IgA, tham gia trong cơ chế thể dịch.
1.đặc điểm và thành phần hóa học
của nhu mô gan.
• Về cấu trúc, gan gồm 4 hệ thống chính:
-Mạch máu gan.
-Tế bào Kupffer thuộc hệ thống võng mạc nội mô.
-Tế bào nhu mô gan.
-Hệ thống ống mật.
2.Thành phần hóa học của gan.
-Protid của gan gồm albumin, globulin, một ít nucleoproteid, colagen....Đặc biệt trong gan có ferritin, một số aminoacid tự do, nhiều nhất là acid glutamic.
-Glucid: glycogen gan ở người trưởng thành có tới 200g, ở trạng thái dự trữ trong các tế bào cơ sở của gan.
-Lipid: gan chứa một lượng lipid khá lớn, bằng 4,8% khối lượng của gan.
-Enzym và vitamin: gan là cơ quan chứa nhiều enzym hơn cả. Trong gan có nhiều caroten, vitamin A, các vitamin nhóm B; gan còn là nơi dự trữ vitamin cho cơ thể như vitamin A, vitamin B12.
Nói chung, thành phần hóa học của nhu mô gan có thể thay đổi theo thời kỳ hoạt động của gan hoặc trong các điều kiện bệnh lý như trong bệnh gan nhiễm ḿ, bệnh về glycogen hoặc bệnh về sắc tố máu (hemochromatose)..
3.các chức năng hóa sinh của gan.
3.1.Chức năng chuyển hóa.
3.1.1.Chuyển hóa glucid.
Đặc điểm :
+ Các tế bào gan cho glucose thấm qua tự do trong khi các tế bào tổ chức ngoài gan hầu như không cho glucose thấm qua tự do.
+ Nồng độ glucose máu là thông số quan trọng xác định tốc độ thu nhận glucose ở gan.
+ Gan là kho dự trữ glucid dưới dạng glycogen cho toàn cơ thể đảm bảo nhu cầu glucose cho cơ thể và loại khỏi máu các sản phẩm chuyển hóa ở các tổ chức (acid lactic từ cơ và hồng cầu....)
+Gan có khả năng phân ly glycogen để cung cấp glucose cho máu. Gan phân ly glucoen theo 2 cách:
- Thuỷ phân với sự tham gia của amylase và maltase.
- Phosphoryl phân với sự tham gia của phosphorylase.

3.1.1.Chuyển hóa glucid.

Đặc điểm :
+Nhờ khả năng tổng hợp glycogen mạnh mẽ để dự trữ và khả năng phân ly glycogen để cung cấp glucose cho dịch ngoại bào, gan đã đóng vai trò chủ chốt trong việc điều hòa đường máu.
+Tại gan, thiamin hydrochlorid được phosphoryl hóa thành dạng thiamin pyrophosphat, là coenzym của decarboxylase, xúc tác quá trình decarboxyl hóa các acid .cetonic (acid pyruvic, acid .cetoglutaric).
Gan còn đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp coenzym A (HS.CoA) từ acid pentothenic, cystein và các tiền chất khác. Thiaminpyrophosphat và coenzym A là những yếu tố rất cần thiết để đưa acid pyruvic vào vòng Krebs.

Toàn bộ hệ thống điều hòa đường máu bằng hormon hoàn toàn tùy thuộc vào sự toàn vẹn chức năng của gan. Khi gan bị suy, hệ thống điều hòa đường máu bị rối loạn cho dù hệ thống hormon vẫn bình thường. Thực tế lâm sàng có thể gặp hạ đường máu lúc đói do gan hoặc tăng đường máu với glucose niệu do chế độ ăn trong bệnh viêm hoặc xơ gan. Phản ứng do enzym phosphoglucomutase bị ức chế cũng có thể dẫn đến hạ đưòng máu do gan.
Ngoài ra ở gan, glucose còn thoái biến theo con đường acid uronic tạo acid glucuronic, chất cần thiết cho chức năng liên hợp khử độc và đào thải của gan.
Ngoài việc tổng hợp glycogen, gan còn có khả năng tổng hợp heparin, một polysaccharid rất cần thiết cho quá trình chống đông máu.
Rối loạn chuyển hóa glucid ở gan: có 2 loại bệnh chính:
+Bệnh galactose máu:
Bình thường, galactose được hấp thu qua tĩnh mạch cửa về gan để tổng hợp glucose hoặc glycogen qua trung gian UDP-galactose. Trong bệnh galactose máu bẩm sinh do thiếu enzym galactose-1-phosphat-uridyl transferase, galactose-1-phosphat không chuyển hóa được, bị ứ đọng, galactose cũng bị ức đọng trong máu, tràn ra nước tiểu. Sự tích tụ galactose-1-phosphat có thể gây các tổn thương cho não (co giật, tinh thần bạc nhược...), làm gan to, gan nhiễm ḿ, hoại tử, xơ, gây đục nhân mắt, acid amin niệu.
+Bệnh ứ đọng glycogen ở gan:
Là sự rối loạn di truyền trong đó glycogen tích tụ quá nhiều ở gan. Glycogen trong gan có thể tăng lên tới 12-16% (bình thường 3-7%) làm gan to và suy chức năng nhẹ. Vì glycogen không được sử dụng nên thường có hạ đường máu khi đói, nhiễm acid và tăng lipid máu. Dự trữ nitơ bị giảm vì protein chuyển thành glucid để duy trì nồng độ đường máu làm trẻ em chậm lớn.
3.1.2.Chuyển hóa lipid.
Đặc điểm chuyển hóa lipid ở gan:
+ Gan là nơi duy nhất sản xuất ra mật để nhũ tương hóa lipid. Sau khi hấp thu qua đường tĩnh mạch cửa hoặc qua đường bạch huyết, lipid đều qua gan, được gan giữ lại rồi chuyển tới các mô khác sau nhiều biến đổi trong gan.
+ Sự thoái hóa acid béo xảy ra mạnh mẽ trong gan để tạo thành acetylCoA: một phần nhỏ acetylCoA này bị đốt cháy trong chu trình Krebs để cung cấp năng lượng cho gan sử dụng; phần lớn acetylCoA được gan chuyển thành các chất cetonic rồi chuyển tới các mô khác để sử dụng. Tại các mô, các chất cetonic này được chuyển thành acetylCoA và được đốt cháy hoàn toàn thành CO2, H2O và năng lượng.


+Gan là nguồn trực tiếp của triglycerid huyết tương chứa trong lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL). Acid béo được sử dụng để tổng hợp triglycerid ở gan có thể lấy từ nguồn acid béo tự do lưu thông trong huyết tương hoặc do chính gan tổng hợp từ acetylCoA, sản phẩm chủ yếu của quá trình thoái hoá glucid.
Sau khi được tổng hợp, triglycerid nhanh chóng được vận chuyển khỏi gan nhờ liên kết với apoprotein, tạo thành phức hợp lipoprotein.
+Phospholipid được tổng hợp mạnh ở gan. Đây là một lipid có cực, giữ vai trò chính trong cấu tạo các sinaps lipoprotein. Gan là nguồn gốc chính của các lipoprotein nội sinh trong cơ thể.
Khi gan bị tổn thương nặng, khả năng tổng hợp glycerid và phospholipid giảm làm cho hàm lượng lipid trong máu cũng giảm.
+Gan đóng vai trò tích cực trong chuyển hóa cholesterol, bao gồm sự tổng hợp, este hóa, oxy hóa và bài tiết.

Cholesterol nội sinh chủ yếu được tổng hợp ở gan. Chỉ gan mới biến đổi được cholesterol thành cholesterol este hóa nhờ phản ứng:
Cholesterol acyl transferase
Cholesterol + AcetylCoA Cholesterol este + CoA
Enzym cholesterol acyl transferase chỉ có ở gan. Vì vậy, người ta tính tỷ lệ cholesterol este hóa trên cholesterol toàn phần để đánh giá chức năng gan. Bình thường, tỷ lệ này là 0,65. Khi nhu mô gan bị tổn thương, tỷ lệ này bị giảm tới 0,5.
+ Gan là cơ quan có khả năng rất lớn trong việc tổng hợp, dự trữ lipid. Xác định lipid toàn phần là thử nghiệm có ích cho chẩn đoán. Cũng như cholesterol, khi có tổn thương tế bào nhu môn gan, nồng độ lipid huyết thanh có thể giảm. Trong xơ gan kiểu Laennec, lipid huyết thanh và cholesterol thường thấp. Trong tắc mật, viêm gan đường mật, viêm gan nhiễm độc, nồng độ lipid huyết thanh tăng.

Gan nhiễm ḿ:
Gan nhiễm ḿ là hiện tượng lipid (mà chủ yếu là triglycerid) tích tụ quá nhiều ở gan. Sự tích tụ quá dài sẽ dẫn đến xơ và suy chức năng gan. Có thể có hai lý do gây hiện tượng gan nhiễm ḿ là:
Acid béo tự do huyết tương tăng do sự huy động ḿ từ tổ chức ḿ hoặc do sự thuỷ phân triglycerid của lipoprotein hoặc của chylomicron bởi lipoprotein lipase trong các tổ chức ngoài gan tăng. Số lượng các acid béo tự do mà gan phải thu nhận sẽ tăng lên. Sự tạo thành lipoprotein huyết tương không đáp ứng kịp với tốc độ acid béo tự do vào gan làm cho triglycerid bị tích tụ, gây nhiễm ḿ gan. Nhiễm ḿ gan trong trường hợp này có thể là do đói ăn nhưng lại được nuôi dứng bằng chế độ có nhiều ḿ; cũng có thể gặp trong bệnh đái tháo đường không kiểm soát, trong nhiễm độc thai nghén...
3.1.3.Chuyển hóa protid.

Tại gan, chuyển hóa nitơ nhanh và mạnh hơn cả (nửa đời sống protid ở gan là 10 ngày, trong khi đó ở cơ là 180 ngày). Đường vận chuyển protid giữa gan và các tổ chức khác là máu. Vì lẽ đó, thành phần nitơ máu phản ánh trạng thái chung của chuyển hóa protid. Nếu gan bị tổn thương, trạng thái này sẽ bị thay đổi. Hàm lượng protein, albumin giảm, tỷ lệ các thành phần điện di protid huyết thanh bị thay đổi. Sự thay đổi này có thể được điều chỉnh cả về chất và lượng bởi các tổ chức ngoài gan.

Các con đường chuyển hóa protid ở gan bao gồm:
-Chuyển hóa và tổng hợp các aminoacid không cần thiết.
-Tổng hợp protein.
Gan chứa nhiều enzym tham gia vào các quá trình chuyển hoá aminoacid. Nhiều aminoacid không cần thiết được tổng hợp ở gan.
Trong các quá trình trên, sự trao đổi amin giữ một vai trò trung tâm quan trọng. Phản ứng trao đổi amin giữa các aminoacid với acid -cetoglutaric dưới tác dụng của enzym GOT (glutamate-oxaloacetate-transaminase) và GPT (glutamate-pyruvate-transaminase) là phản ứng được quan tâm nhiều. Các enzym GOT và GPT có nhiều ứng dụng trong lâm sàng.
-Gan có khả năng rất lớn trong việc tổng hợp ure từ amoniac có nguồn gốc khác nhau.

-Gan là tổ chức duy nhất tổng hợp albumin huyết tương và phần lớn protein huyết thanh, một số yếu tố đông máu (prothrombin, fibrinogen), cholinesterase,...Trong bệnh gan tiến triển, sự tổng hợp hầu hết các protein giảm nhưng quan trọng nhất là sự giảm albumin và các yếu tố đông máu. Albumin huyết tương giảm có thể dẫn đến:
Giảm áp suất thẩm thấu huyết tương, nguyên nhân chính gây tràn dịch và phù.
Giảm protein tổ chức do hiện tượng cân bằng động. Đây là một đặc trưng của chuyển hóa protein.
-Người bệnh suy yếu và giảm khả năng chống đ́ các stress cũng như tình trạng nhiễm khuẩn.
-Ngoài ra, gan còn tổng hợp acid uric, cholin, creatin, tham gia chuyển hóa histidin.
3.1.4.Chuyển hóa vitamin
-Vitamin tan trong ḿ:
Muối mật rất cần thiết cho việc hấp thu lipid và các vitamin tan trong lipid.
Gan cần có vitamin K để tổng hợp prothrombin và một số yếu tố đông máu khác. Khi rối loạn hệ thống gan mật, nồng độ prothrombin huyết tương có thể giảm do:
.Thiếu acid mật, gan không được cung cấp đủ vitamin K cần thiết từ thức ăn.
.Do gan bị tổn thương nên không sử dụng được vitamin K ngay cả khi được cung cấp đầy đủ.
Trong tắc mật, nồng độ prothrombin huyết tương giảm. Nếu tiêm vitamin K, mức prothrombin có thể phục hồi trong vòng 1 - 2 ngày.
Viêm gan mức độ nhẹ và vừa, tuy việc dự trữ và hấp thu vitamin K giảm nhưng không đủ để gây ra sự giảm prothrombin. Trường hợp tổn thương gan nặng, prothrombin sẽ bị giảm rõ rệt.


3.1.5.Chuyển hóa sắt:
Sắt được dự trữ dưới dạng ferritin, có ở gan, tủy xương, lách, ruột. Nếu sắt bị đưa vào cơ thể quá nhiều, vượt quá khả năng dự trữ dưới dạng ferritin, sẽ tích tụ ở gan dưới dạng hemosiderin. Nồng độ sắt huyết thanh thay đổi đáng kể trong bệnh gan. Trong viêm gan có thể tăng lên tới 2 - 3 lần. Ngược lại, trong xơ gan lại giảm và bình thường trong tắc mật.
Nhiễm quá nhiều và kéo dài hemosiderin, gan có thể bị tổn thương với những dấu hiệu xơ và gây bệnh đái tháo đường vì sắt ứ đọng ở tụy.
3.2.Chức năng tạo mật.

Mật được tiết ra liên tục từ các tế bào gan và được dự trữ trong túi mật. Khi tiêu hóa, mật được tiết từng đợt vào tá tràng. Lượng mật được tiết ra hàng ngày thay đổi tuỳ theo khối lượng và tính chất của thức ăn. Mỗi ngày gan sản xuất được khoảng 800 - 1000ml dịch mật. Trong túi mật, mật được cô đặc, sự cô đặc này không phải là sự mất nước đơn thuần bởi vì các thành phần trong dịch mật được cô đặc với những mức độ khác nhau.
Các thành phần chính của mật là: acid mật, sắc tố mật và các sản phẩm chuyển hóa của nó, cholesterol, phosphatase kiềm...
Trong tiêu hóa thì thành phần quan trọng của mật là acid mật.

3.2.1.Acid mật và muối mật.
Acid mật nguyên phát được tạo thành ở gan từ cholesterol. Thực nghiệm với cholesterol ghi dấu bằng deuterium (D) đưa vào mạch máu chó, thấy acid cholic trong nước tiểu chó chứa D.
ở người, có 2 acid mật nguyên phát tạo ra ở tế bào nhu mô gan là:
-Acid chenodeoxycholic (acid 3,7 dihydroxycholanic)
-Acid cholic (acid 3,7,12 trihydroxycholanic)
Các acid mật bị ion hóa ở pH = 7 cho nên acid mật trong cơ thể tồn tại ở dạng muối. Vì vậy, acid mật có thể gọi là muối mật.
Các acid mật nguyên phát liên kết với glycin hoặc taurin, tạo thành acid mật liên hợp. Glycin và taurin có nhóm amin, tạo thành liên kết giống như liên kết peptid khi tác dụng với nhóm carboxyl của acid mật. Các acid mật liên hợp trong mật ở dạng muối natri như glycocholat natri hoặc taurocholat natri.

3.2.2.Sắc tố mật và sản phẩm chuyển hóa của chúng.


3.2.3 Cholesterol.
Nhờ có acid mật mà cholesterol ở gan hòa tan được trong mật để đưa ra khỏi tế bào gan. Khi bị kết tủa, cholesterol sẽ tham gia tạo thành sỏi mật. Ngoài cholesterol,một lượng nhỏ phospholipid cũng được bài tiết vào mật. Khi đường mật bị tắc , lipid mà đặc biệt là cholesterol và phospholipid huyết tương tăng. Sự tăng cholesterol chủ yếu là cholesterol tự do.
Thử nghiệm cholesterol tự do, cholesterol este hoá và cholesterol toàn phần huyết tương có giá trị chẩn đoán phân biệt các loại vàng da:
- Trường hợp cholesterol toàn phần bình thường (hoặc hơi thấp), cholesterol este hoá giảm, được coi là dấu hiệu đặc trưng của bệnh gan.
- Cholesterol toàn phần cao với cholesterol este hoá bình thường,

3.3 Chức năng khử độc của gan.
2.3.1 Khử độc bằng cố định, thải trừ:
Một số lớn kim loại (muối đồng,chì...) các chất màu vào cơ thể bị gan giữ lại rồi đào thải ra ngoài nguyên vẹn qua đường mật mà bản chất hóa học không có sự biến đổi. Vì thế người ta dùng chất màu như brom-sulphophtalein (BSB),..để thăm dò chức năng gan.
2.3.2 Khử độc bằng các phản ứng hoá học:
Khử độc bằng các phản ứng hoá học là quá trình khử độc quan trọng nhất. Đặc điểm của quá trình này là chất độc được biến đổi thành chất không độc, hoặc ít độc , dễ tan rồi thải ra ngoài. Ví dụ :
Tổng hợp ure từ NH3 là một trong những quá trình khử độc thường xuyên của cơ thể. Hoặc sự phân giải H2O2 bởi enzym catalase tạo thành nước cũng là một quá trình khử độc hoá học.

3.3.2 Khử độc bằng các phản ứng hoá học:
Khử độc bằng các phản ứng hoá học là quá trình khử độc quan trọng nhất. Đặc điểm của quá trình này là chất độc được biến đổi thành chất không độc, hoặc ít độc , dễ tan rồi thải ra ngoài. Ví dụ :
Tổng hợp ure từ NH3 là một trong những quá trình khử độc thường xuyên của cơ thể. Hoặc sự phân giải H2O2 bởi enzym catalase tạo thành nước cũng là một quá trình khử độc hoá học.
Các phản ứng hoá học gồm nhiều loại.
Khử độc bằng phản ứng oxy hoá:
Các chức alcol, aldehyd, ceton, ete, indol, paludrin...được oxy hoá thành chất không độc để đào thải ra ngoài.

Ví dụ:
-Alcol etylic bị oxy hoá dưới tác dụng của alcol dehydrogenase thành aldehyd acetic rồi thành acid acetic:


- oxi hoá các hydrocarbon no:

Khử độc bằng phản ứng khử:


Các aldehyd hoặc ceton có thể bị khử thành các alcol, ví dụ cloral bị khử thành tricloroethanol:

Khử độc bằng phản ứng thuỷ phân. Ví dụ:

Khử độc bằng phản ứng liên hợp:
+ Liên hợp với glycin:
Chất độc liên hợp với glycin bằng liên kết giữa nhóm COOH của chất độc với nhóm NH2 của glycin. Ví dụ: sự liên hợp giữa acid benzoic phải được hoạt hoá dưới dạng benzoylCoA nhờ coenzym A và ATP. ở dạng hoạt hoá benzoylCoA chứa liên kết giàu năng lượng đủ cung cấp cho phản ứng với liên hợp glycin tạo thành acid hyppuric.

+ Liên hợp glucuronic:
Rất nhiều chất (phenol và các dẫn xuất,alcol thơm,alcaloid,bilirubin,acid béo,steroid...) được đào thải ra ngoài theo nước tiểu dưới dạng liên hợp với acid glucoronic. Ví dụ




Người ta thấy sự liên hợp glucuronic đi đôi với sự liên hợp sulfonic. Ví dụ: phenol có thể tạo este sulfonic, cũng có thể tạo phenolglucuronic. Indoxyl có thể tạo indoxylsulfat hoặc indoxylglucurronic.

+ Liên hợp với sulfonic:
Các chất độc phenol,indol sinh ra trong quá trình thối rữa ở ruột được hấp thu một phần qua gan rồi đào thải ra nước tiểu ở dạng muối kiềm của este sulfuric:


+ Liên hợp với acid acetic.
Đây là cách đào thải các acid paraaminobenzoic, sulfamid.


+ Liên hợp với glutamin:
Ví dụ: acid phenylacetic liên hợp với glutamin để đào thải dưới dạng phenyl-acetyl-glutamin:

+ Liên hợp sulfocyanur:
Các acid cyanhydric, nitrit, carbamin... được chuyển thành dạng liên hợp


• Khử độc bằng phản ứng metyl hoá.
• Các chất ngoại lai dị vòng như pyridin, quinolein được metyl hoá thành dạng N- metylpiridin... Ví dụ: phản ứng metyl hoá hydrogen sulfide (H2S) được xúc tác bởi thiol-S-metyltransferase, nhóm CH3 được lấy từ methionin (dưới dạng hoạt hoá S-adenosylmethionin) như sau:
H2S + S-Adenosylmethionin  CH3SH + S-Adenosylhomocystein
2. Các Trạng THáI bệnh Lý CủA gan
2.1- Hoàng đản:
Hoàng đản là trạng thái bệnh lý vàng da và niêm mạc, là kết quả của sự tăng bilirubin trong máu.
Với giới hạn trên của nồng độ bilirubin bình thường trong huyết thanh là 1mg/dL( 17 mol/l), vàng da cũng chưa xuất hiện trên lâm sàng khi nồng độ bilirubin huyết thanh trong khoảng 2 - 3 mg/dL ( 34 - 51mol/l ).
Trừ ở trẻ em, nhìn chung bilirubin trong máu tăng sẽ được thanh lọc tốt và không gây nên những hậu quả nặng nề về phương diện lâm sàng.

2.1- Hoàng đản:

• bilirubin máu tăng ở trẻ em (trong khoảng 15- 20mg/mL) có thể gây nên các rối loạn rất nghiêm trọng của hệ thống thần kinh trung ương, bởi vì hệ thống thần kinh trung ương của trẻ em chưa phát triển đầy đủ và không có hàng rào máu - não phát triển tốt.
• Nguyên nhân tăng bilirubin máu có thể do sự phá huỷ của tế bào hồng cầu hay sự tan máu và có thể ứ mật trên những bệnh nhân có chức năng gan bình thường. Bởi vậy, phân biệt giữa bệnh gan và bệnh tan máu hay ứ mật trên một bệnh nhân có vàng da là một vấn đề quan trọng đối với người thầy thuốc lâm sàng và điều tất yếu là phải .dựa vào các xét nghiệm cận lâm sàng.
2.2. Viêm gan
Viêm gan hay gọi là trạng thái viêm của gan, gây nên bởi virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, phóng xạ, thuốc, chất hoá học hay chất độc. Các virus gây viêm gan là virus A, B, C, D (hoặc delta) và E ; virus viêm não, virus Epstein-Barr và một số virus khác.
2.3- Xơ gan.
• Xơ gan là trạng thái bệnh lý liên quan đến sự thay đổi cấu trúc của gan, xuất hiện cấu trúc nốt không bình thường.
Phân loại xơ gan dựa vào kích thước của các nốt: xơ gan có nốt nhỏ, xơ gan có nết to; tuy nhiên các dạng hỗn hợp thường xảy ra.
Một cách phân loại khác dựa vào nguyên nhân gây xơ gan: xơ gan do rượu thường dẫn đến sự tạo thành xơ gan nốt nhỏ và xơ gan do những nguyên nhân khác.
Xơ gan là một trạng thái rối loạn nặng nề của gan và là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây nên tử vong.
2.3. Xơ gan.

Tăng áp lực tuần hoàn ngoại vi xuất hiện khi dòng máu đi qua hệ tĩnh mạch cửa bị cản trở bởi gan xơ. Điều này dẫn đến sự phì đại của lách và có thể gây v́ lách, chảy máu chết người. Trong xơ gan, khả năng tổng hợp chất của gan bị giảm gây giảm albumin huyết tương, thiếu hụt các yếu tố kết dính (yếu tố đông máu) và dẫn đến xuất huyết; xuất hiện dịch acit trong ổ bụng
Mặc dù bệnh nhân bị xơ gan có thể kéo dài sự sống nhưng nhìn chung, chẩn đoán này là một điều đáng ngại.
2.4. Khối u gan
U ác tính nguyên phát của gan đã được biết như carcinoma tế bào gan (hepatocellular carcinoma) hay gọi là hepatoma - là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tử vong do ung thư. Hầu hết các trường hợp carcinoma tế bào gan có liên quan đến sự nhiễm trùng trước đó do virus viêm gan gây nên. Dù là u nguyên phát hay u thứ phát, các khối u ác tính ở gan đều được phát hiện với chẩn đoán nghèo nàn và muộn; sự can thiệp của người thày thuốc thường là ngoại khoa nhưng nói chung là khó khăn và cuộc sống còn lại của người bệnh được tính bằng tháng.
2.5. Những rối loạn liên quan đến rượu và thuốc
Nhiều loại thuốc và các chất hoá học gây độc với gan. Những chất độc này gây nên hoại tử tế bào gan, dẫn đến hôn mê và chết; hoặc gây nên các triệu chứng dưới lâm sàng dễ bị bỏ qua. Một độc chất thường gặp đối với gan là ethanol, một lượng lớn ethanol gây nên xơ gan. Một số thuốc như phenolthiazine, một số kháng sinh, thuốc chống viêm,. . .có thể gây thương tổn tế bào gan và đánh giá mức độ thương tổn này bằng các xét nghiệm chức năng gan;. chức năng gan có thể trở về bình thường khi các chất độc trên được loại trừ, nhưng cung có trường hợp dẫn đến sự huỷ hoại phần lớn gan hoặc gây xơ gan.
3- Các chỉ số đánh giá chức năng gan:
3.1. Các chỉ số đánh giá chức năng chuyển hoá chất
* Albumin huyết thanh:
Nồng độ albumin bình thường : 35-55g/l.
Khi gan bị bệnh, nồng độ albumin huyết thanh sẽ giảm và sự giảm này không xảy ra ngay vì nửa đời sống của albumin xấp xỉ 20 ngày, do vậy sự suy giảm tổng hợp albumin sẽ được phát hiện sau khoảng 3 tuần lễ. ý nghĩa của việc định lượng albumin huyết thanh là đánh giá bệnh gan mạn tính hơn là tình trạng cấp tính. Nếu nồng độ albumin huyết thanh giảm có nghĩa là gan đã bị giảm chức năng trong thời gian trước đó. Trong viêm gan mạn, xơ gan . Albumin huyết thanh giảm nặng < 30g/l, thậm chí giảm thấp < 25g/l dẫn đến tình trạng phù, cổ chướng...
3.1. Các chỉ số đánh giá chức năng chuyển hoá chất
* Xét nghiệm protein huyết thanh:
Bình thường Protein huyết thanh trong khoảng 60-85g/l
Trong viêm gan mạn và xơ gan, ung thư gan chỉ số này giảm do chức năng tổng hợp Albumin, protein giảm ( biểu hiện phù, cổ chướng).
Để đánh giá mức độ viêm gan mạn, xơ gan người ta làm xét nghiệm Điện di protein huyết thanh.
Bình thường tỷ lệ các thành phần điện di như sau:
Albumin: 54%, Globulin 1: 5%, Globulin 2: 9%
Globulin :11%, Globulin  : 21 %.
Trong Viêm gan mạn Globulin  tăng nhẹ, trong xơ gan, ung thư gan chỉ số này tăng rất cao trên 27 %



3.1. Các chỉ số đánh giá chức năng chuyển hoá chất

3.1.1. Các chỉ số đánh giá chức năng chuyển hoá chất

*Lipid và 1ipoprotein huyết thanh
Có nhiều sự bất thường của chuyển hoá lipid và lipoprotein huyết thanh trong bệnh lý gan. Hình ảnh điển hình được chú ý là mức tăng triglycerid (TG) và acid béo, sự giảm cholesterol este (CE) và sự thay đổi đi kèm của nồng độ lipoprotein. Những bệnh lý trên có thể do sự thiếu hụt cửa hai enzym nguồn gốc gan - đó là lecithin cholesterol acyltranferase (LCAT) và lipoprotein lipase (LPL). Gan sản xuất lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL) và lipoprotein tỷ trọng cao ( HDL), những lipoprotein này có nồng độ giảm trong bệnh gan.
3.1.1. Các chỉ số đánh giá chức năng chuyển hoá chất

• Bilirubin huyết thanh
Bình thường:
Bilirubin toàn phần ( Trực tiếp và gián tiếp ) : 17,1 mol/l
Trực tiếp : 0,1 – 4,1 mol/l
Gián tiếp : 3,1 – 13,0 mol/l
Trong viêm gan cấp Bilirubin trực tiếp và toàn phần tăng cao vài chục mol/l đến hàng trăm mol/l.
Trong viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan các chỉ số bilirubin trực tiếp và toàn phần tăng không rõ rệt, tuỳ từng đợt tiến triển bệnh.




3.2. Xác định hoạt độ các enzym của gan
* Xét nghiệm enzym AST,ALT huyết thanh:

- AST: bình thường 10 - 40U/L
- ALT: bình thường 8 – 38 U/L
2 enzym này tăng rất cao trong viêm gan cấp ( Gấp trên 5 lần cho đến trên 20 lần so với bình thường ). Tỷ lệ AST/ALT hay còn gọi là chỉ só Deritis xấp xỉ 1,1.
Trong viêm gan mạn 2 chỉ só này tăng không dáng kể, AST tăng < 5 lần so với bình thường. ALT tăng ít, chỉ số Deritis cao hơn 1,4.

3.3. Định lượng hoạt độ các enzym của gan
*Phosphatase kiềm (ALP = Alkalin phosphatase):
• Nam giới: 80 - 306 u/l
• Nữ giới: 64 - 306 u/l
Hoạt độ ALP tăng nhẹ đến tăng trung bình ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng tế bào gan như viêm gan, xơ gan; tăng nhất thời trong tất cả các loại bệnh gan. Sự tăng mạnh của hoạt độ ALP xảy ra trong tắc mật ngoài gan như sỏi đường dẫn mật chung, tắc mật trong gan nhận tác mật do thuốc hoặc xơ đường mật nguyên phát. Enzym này luôn luôn tăng trong bệnh gan di căn.
• Bệnh Paget - u di căn xương và các bệnh khác liên quan đến sự tăng hoạt tính của tạo cốt bào đều dẫn đến tăng hoạt độ ALP huyết thanh dù không có bệnh lý gan. Enzym này được tìm thấy trong nhau thai và hoạt tính tăng ở phụ nữ mang thai.
3.2. Định lượng hoạt độ các enzym của gan
•  - glutamyltransferase ( - GT):
* Bình thường GGT < 50 (U/l)
 GT có nồng độ cao trong tổn thương thận và gan. Hầu hết bệnh nhân gan-mật có hoạt độ của enzym này trong huyết thanh tăng cao, điều này không đặc hiệu cho các týp của bệnh gan nhưng nó là xét nghiệm thường qui và nhạy để đánh giá chức năng gan của người nghiện rượu. Hoạt độ enzym tăng cao nhất trong tắc đường mật. Đo lường hoạt độ của enzym cũng được áp dụng trong những trường hợp không vàng da để chẩn đoán khối u gan và được coi như một xét nghiệm để chẩn đoán bệnh lý gan ở bệnh nhân có tăng hoạt độ phosphatase kiềm
3.2. Định lượng hoạt độ các enzym của gan
• Lactat dehydrogenase (LDH):
Bình thường LDH huyết thanh là 180 - 480 U/l
Enzym này có mặt trong tất cả các mô và được giải phóng vào huyết thanh từ thương tổn của nhiều tổ chức khác nhau, tuy nhiên việc phân tích các isozym của LDH có thể cho những thông tin có ích về sự thay đổi của mô là nguồn gốc sản sinh các isozym. LDH 5 có nhiều nhất ở gan, cơ xương, do vậy sự tăng isozym này thường gặp trong vàng da. Sự tăng vừa phải hoạt độ enzyrn gặp phổ biến trong viêm gan cấp do virus và xơ gan, bệnh đường mật có thể gây tăng nhẹ enzym này. Hoạt độ enzym tăng cao trong huyết thanh có thể xuất hiện trong cacinoma di căn gan.
3.3. Các chỉ số đánh giá chức năg, khử độc và bài tiết của gan
• Amoniac huyết tương:
Nồng độ NH3__ huyết tương trong giới hạn 15-45 g/dL ( 11-32 mol/l) là bình thường.
Nồng độ NH3 huyết tương tăng liên quan đến bệnh lý gan tiến triển, hôn mê và các hội chứng thần kinh khác. Mặc dù việc định lượng NH3 cho giá trị hạn chế trên bệnh nhân đã được chẩn đoán với bệnh lý gan, nó vẫn có ích để đánh giá bệnh nhân hôn mê và những trạng thái tâm thần thay đổi chưa biết căn nguyên.
Trong lâm sàng, xét nghiệm ure huyết thanh thay cho xét nghiệm NH3 . Ure giảm trong suy gan, hôn mê gan.

3.3. Các chỉ số đánh giá chức năg, khử độc và bài tiết của gan

*Xét nghiệm với chất màu ngoại sinh:
• Các xét nghiệm với chất màu ngoại sinh là những xét nghiệm truyền thống được dùng để đánh giá chức năng khử độc và bài tiết của gan. Xét nghiện thông thường nhất là nghiệm pháp Bromosulfophtalein (nghiệm pháp BSP): tiêm tĩnh mạch chất màu BSP liều 5 mg/kg thân trọng, tại thời điểm 45 phút sau khi tiêm sẽ lấy máu và đo lường số lượng chất màu còn lại trong máu, chức năng gan bình thường nếu gan bài tiết được 95% lượng chất màu trong 45 phút.
3.3. Các chỉ số đánh giá chức năg, khử độc và bài tiết của gan
• Urobilinogen trong nước tiểu :
Urobilinogen là chất không màu, sản phẩm chuyển hoá của bilirubin khi bị oxy hoá bởi vi khuẩn ruột già tạo thành urobilin có màu nâu. ở những cá thể bình thường, một phần urobilinogen được bài xuất qua phân và phần còn lại được tái hấp thu qua tĩnh mạch cửa về gan, một tỷ lệ nhỏ không được tế bào gan giữ lại và sẽ được bài xuất bởi thận dưới dạng urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen nước tiểu tăng trong bệnh huyết tán và trong các trường hợp chức năng của tế bào gan bị suy giảm, như viêm gan
Urobilinogen nước tiểu có giới hạn bình thường là 0 - 4 mg/24 giờ.
4. Xét nghiệm huyết thanh học xác định nhiễm
virus viêm gan:
• Các virus viêm gan gồm týp A, B, C, D (hay delta) và E, G.
Hiện nay nguy hiểm nhất là HBV và HCV.
* Viêm gan B: thời gian ủ bệnh dài, 2 đường lây truyền chính là vòng chu sinh ( đường máu ) và đường tình dục, ngoài ra cũng tồn tại trường lây truyền phân-miệng. Virus viêm gan B (HBV) có trong các dịch sinh vật, bao gồm: máu, nước tiểu, nước mắt, nước bọt, phân, tinh dịch, sữa, .
* Viêm gan B:
• Virus viêm gan B là tiểu phần hình cầu với 2 lớp áo và lõi trung tâm là DNA được bao quanh áo protein. Tiểu phần virus tồn tại với nồng độ thấp trong huyết thanh người bệnh viêm gan cấp được gọi là tiểu phần Dane hay HBV. Sau khi bị nhiễm HBV, phần lõi của kháng nguyên được tổng hợp trong nhân của tế bào gan và đi vào bào tương của tế bào gan - tại đây chúng được bao phủ bởi lớp áo protein. Kháng nguyên có mặt trong lõi virus (HBcAg) và kháng nguyên bề mặt (HBsAg) được phát hiện trong huyết thanh. Một kháng nguyên khác gọi là kháng nguyên e (HBeAg) cũng được tìm thấy trong huyết thanh. Xấp xỉ 90% người bệnh nhiễm HBV hồi phục trong vòng 6 tháng và được đo lường bằng sự gia tăng kháng thể của kháng nguyên bề mặt (anti-HBsAg), khoảng 10% bệnh nhân viêm gan sẽ bị viêm gan mạn tính.
Virus viêm gan B (tiếu phần Dane) với các marker trong huyết thanh
Mô hình về huyết thanh học của viêm gan mạn
4. Xét nghiệm huyết thanh học xác định nhiễm
virus viêm gan:
• Viêm gan C: người ta đã phát hiện kháng thể của virus viêm gan C (HCV) ở hầu hết những cá thể bị nhiễm HCV. Nhiễm HCV có tỷ lệ cao phát triển thành viêm gan mạn, xơ gan và carcinoma. Bởi vậy, viêm gan C là nguyên nhân chính của viêm gan mạn trong thế kỷ này. Kháng thể HCV thường không phát hiện được trong vài tháng đầu tiên của sự nhiễm trùng nhưng sẽ xuất hiện trong huyết thanh của hầu hết người bệnh ở thời kỳ sau của bệnh.
truong_xn1 đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Chia sẻ bài viết với bạn bè qua: FaceBook
Cũ 06-11-2011, 11:32 PM   #2
vodanhkt
Thành Viên
 
Avatar của vodanhkt
 
Tham gia ngày: Oct 2010
Bài gửi: 262
Mặc định

tuyệt với em ak
__________________
./....>>>VÔ DANH<<<....\.
vodanhkt đang ẩn   Trả lời với trích dẫn
Chia sẻ bài viết với bạn bè qua: FaceBook
Trả lời


Những người đang xem chủ đề: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 01:28 AM

vBulletin skin by: CHVF [HSSV] Y Hai Phong
Powered by vBulletin® Ver 3.x.x Copyright ©2000 - 2009, Jelsoft Enterprises Ltd.
© 2014 Việt Hóa Bởi Andy.Pro.