 |
MỤC TIÊU:
- Hiểu được sinh lý khoang màng phổi
- Nêu được các chỉ định dẫn lưu màng phổi
- Trình bày được biến chứng của thủ thuật dẫn lưu màng phổi kín.
- Trình bày được cách chăm sóc hệ thống ống dẫn lưu màng phổi.
1. GIỚI THIỆU:
1.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý học màng phổi:
- Màng phổi là một khoang ảo kín,
- Lá thành có thần kinh cảm giác, lá tạng không có thần kinh.
- Lá tạng là nơi tiết dịch chủ yếu.
- Áp lực khoang màng phổi: Hít vào áp lực -8 đến -10 cm H2O; thở ra từ -2 đến + 0 cm H2O. Khi hắt hơi mạnh hoặc ho hoặc thở ra tối đa thì áp lực tống ra cao +50 cm H2O sau đó tụt sâu -50 đến -60 cm H2O nên có thể hút ngược dịch trong bình dẫn lưu lên màng phổi nếu bình để cao quá. Do đó bắt buộc phải để bình lúc nào cũng thấp hơn so với màng phổi (lồng ngực) là 60 cm.
- Màng phổi có khả năng chống nhiễm khuẩn hạn chế nhất định và nó rất dễ bị nhiễm trùng, vì vậy yêu cầu của dẫn lưu màng phổi: vô khuẩn, kín, một chiều, nếu có thể hút liên tục.
- Chú ý sốc phế mạc.
1.2. Chỉ định:
Chấn thương
- Tràn khí màng phổi
- Tràn máu màng phổi
- Tràn khí – máu màng phổi
.Bệnh lý
- Tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát
- Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát (lao, khí phế thủng...)
- Tràn dịch màng phổi (mủ, máu, dưỡng trấp...)
Sau phẫu thuật lồng ngực: phẫu thuật tim, phẫu thuật mở ngực...
1.3. Chống chỉ định:
Không có chống chỉ định tuyệt đối, ngoại trừ trường hợp phổi dính hoàn toàn vào thành ngực một bên lồng ngực. Chỉ có chống chỉ định tương đối, đối với các trường hợp bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông máu hoặc có bệnh lý về đông cầm máu.
1.4. Nguyên tắc của dẫn lưu kín ở màng phổi:
- Đảm bảo dẫn lưu: Kín, một chiều, vô khuẩn, hút liên tục.
2. HỆ THỐNG BÌNH DẪN LƯU
- Hệ thống bình kín trong nước kiểu 1 bình
- Hệ thống hút kiểu 2 bình
- Hệ thống hút “pleur – vac” kiểu 3 bình.
Nguyên tắc sử dụng hệ thống ba bình:
Máy hút gắn vào ống (a), khí trời sẽ vào bình C qua ống (b). Do đó dù áp lực hút cao đến mức độ nào chăng nữa, áp suất hút thực sự chỉ ở mức giới hạn là chiều cao cột nước (b). Như vậy bình C có chức năng điều hòa máy hút và thông với bình B qua ống (c). Áp suất âm trong ống (d) và bình B sẽ hút khí từ bình A qua bình B, nếu có, tạo thành những tiếng “lụp bụp” trong bình B. Bình B là hệ thống bình kín trong nước (như cái van 1 chiều), ngăn không cho khí trào ngược qua bình A vào khoang màng phổi. Bình A là bình hứng dịch màng phổi, được chia vạch để biết lượng dịch thoát ra.
Pleur – vac là hệ thống bình hút có nhiều ngăn, bán trên thị trường dựa trên nguyên tắc 3 bình, rất tiện dụng khi di chuyển:
- Chiều cao của “buồng A” (có 3 ngăn) để xác định lượng dịch thoát ra từ khoang màng phổi (tính bằng ml).
- “Buồng B” là hệ thống bình kín trong nước
- “ Buồng C” là buồng điều hòa và kiểm soát lực hút (tính bằng cm nước). Đổ nước vào “buồng C”. Chính chiều cao của cột nước này là mức hằng định áp lực đang hút từ khoang màng phổi của bệnh nhân, tốt nhất là 20 cm.
3. CHĂM SÓC HỆ THỐNG BÌNH DẪN LƯU MÀNG PHỔI
- Luôn giữ bình dẫn lưu thấp hơn ngực bệnh nhân
- Tránh kẹp ống, chỉ kẹp khi nào cần kiểm tra dò khí hay khi muốn nâng bình lên cao hơn ngực bệnh nhân
- Khuyến khích BN hít thở sâu và ho để khạc đàm
- Ghi nhận tần số, độ sâu, kiểu thở.
- Nghe phổi để kiểm tra và phát hiện bất thường
- Theo dõi vị trí cắm ống, bảo đảm ống không bị tụt ra ngoài, sờ da để phát hiện tràn khí dưới da
- Theo dõi lượng dịch, sự lên xuống của mực nước, bọt khí và lực hút
- Giảm đau
- Để kẹp cạnh giường đề phòng trường hợp khẩn cấp.
4. BIẾN CHỨNG:
1. Shock phế mạc do phản xạ hiếm gặp
2. Phù phổi cấp (O.A.P) do dịch chảy ra quá nhanh.
3. Chảy máu do đứt mạch máu liên sườn hoặc cầm máu thành ngực không kỹ.
4. Nhiễm trùng vết mổ.
5. Tràn khí dưới da.
6. Nhiễm trùng ngựơc chiều vào khoang màng phổi gây mủ màng phổi
7. Biến chứng của ống: tuột ống, đặt ống không vào, gập ống, đặt đầu ống cao quá chỗ dịch, chọc thủng nhu mô phổi, chọc thủng cơ hoành vào tạng ổ bụng gây viêm phúc mạc, nghẽn ống do máu cục hoặc cục mủ.
5. TÓM TẮT CHỈ ĐỊNH RÚT ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI KÍN:
5.1. Khí:
- Khám lâm sàng
- Hết bọt khí trong bình
- X quang, siêu âm kiểm tra
Kẹp ống 24h rồi rút
5.2. Dịch:
- Khám lâm sàng
- Hết chảy dịch hoặc dưới 200ml/24h
- X quang, siêu âm kiểm tra
Rút
5.3. Dẫn lưu phòng ngừa sau phẫu thuật lồng ngực không biến chứng: rút sau 24 - 48h.
6. KỸ THUẬT RÚT ỐNG DẪN LƯU:
Vấn đề chính của việc rút dẫn lưu màng phổi là nguy cơ tràn khí màng phổi trong khi rút. Rút dẫn lưu nên thực hiện 1 thì duy nhất: cuối thì thở ra hoặc cuối thì hít vào (làm nghiệm pháp Valsava) để hạn chế tối đa nguy cơ khí thoát vào khoang màng phổi.
Một người vừa xiết vòng chỉ làm sẵn chữ X hoặc U tức “Chỉ Chờ”, trong khi người kia cắt chỉ cố định ống sonde và rút. Người xiết chỉ sẽ cột chặt mối cột để tránh tràn khí ngược vào màng phổi theo đường hầm mô hạt do ống tạo ra.
(Ths. Bs. Liêu Vĩnh Đạt)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Công Minh (2005), “Săn sóc hệ thống dẫn lưu”, Chấn thương ngực, NXB Y Học .
2. Shelly P. Dev, M.D., Bartolomeu Nascimiento, Jr., M.D.,Carmine Simone, M.D., and Vincent Chien, M.D. (2007), “Chest tube insertion”, N Engl J Med, Vol. 357, e15.
3. D Laws, E Neville and J Duffy (2003), “BTS guidelines for the insertion of a chest drain”, Thorax, Vol. 58, pp. 53-59
View more latest threads same category:
|
|